"Chính sách quốc phòng của Việt Nam là hòa bình và tự vệ"

Ngày 5/6, tại Hội nghị an ninh châu Á lần thứ 10 (Đối thoại Shangri-La 10) diễn ra tại Singapore, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh đã có bài phát biểu quan trọng với chủ đề "Ứng phó với các thách thức an ninh biển mới.”
TTXVN xin giới thiệu toàn văn bài phát biểu.
Tôi chân thành cảm ơn Viện nghiên cứu chiến lược quốc tế và nước chủ nhà Singapore đã mời tôi tham dự Đối thoại Shangri-La lần thứ 10 và chia sẻ cùng các quý vị tại phiên họp này.Tôi đồng tình với đánh giá của các quý vị về vai trò của Đối thoại Shangri-La trong 10 năm qua với những đóng góp tích cực vào việc xây dựng lòng tin, tăng cường tính minh bạch trong chính sách an ninh của các quốc gia trong khu vực, đồng thời thúc đẩy việc hình thành các cơ chế hợp tác an ninh đa phương mới vì mục tiêu hòa bình, ổn định và phát triển thịnh vượng chung ở châu Á-Thái Bình Dương và trên thế giới.Chủ đề mà Ban tổ chức dành cho tôi "Ứng phó với các thách thức an ninh biển mới” là một vấn đề rất thời sự, rất hệ trọng, liên quan đến hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực và trên thế giới. Nói đến biển trong thế kỷ 21, chúng ta đều có nhận thức chung đó là không gian sống còn, phát triển và là tương lai của thế giới hiện đại đối với cả các nước có biển và không có biển, tại những khu vực có tuyên bố chủ quyền, hay không tuyên bố chủ quyền. Đặc điểm nổi lên của không gian biển thời gian gần đây là sự can dự của các nước được tăng cường trong mọi lĩnh vực để có được lợi ích trước mắt và lâu dài của các quốc gia, các lợi ích đó đều mang tính chiến lược, sống còn.Trong bối cảnh hiện nay, các mối quan hệ hợp tác đang phát triển mạnh mẽ, đem lại lợi ích lớn cho từng quốc gia, cho khu vực và cho toàn thế giới. Bên cạnh đó, cũng nảy sinh những khác biệt, mâu thuẫn, thậm chí xung đột. Chúng ta không nên né tránh và hãy nhìn nhận nó, những sự hợp tác và khác biệt đó là một thực tế khách quan, là hai mặt của một vấn đề trong quá trình phát triển và khai thác biển. Vấn đề là chúng ta phải nhận thức đầy đủ tính toàn cầu, tính quốc tế của biển trong thế giới hiện đại- không có thách thức nào là của riêng ai, mà đó là những thách thức chung, trực tiếp hay gián tiếp đối với tất cả các quốc gia, đòi hỏi phải có sự hợp tác rộng rãi, thiện chí để tăng cường hợp tác, giảm thiểu những khác biệt, mâu thuẫn và xung đột.Vậy, chúng ta sẽ làm gì với cái nhìn rộng rãi, trên góc độ đa phương để ngày càng cải thiện tình hình, sử dụng có hiệu quả tài nguyên, môi trường không gian biển, đem lại lợi ích cho từng quốc gia, cho khu vực, cũng như cho toàn thế giới?Trước hết, chúng ta cần có nhận thức chung đúng về giá trị, về những đặc điểm mới, những lợi ích và thách thức mà tất cả các quốc gia đều gặp phải. Sự xuất hiện hàng loạt vấn đề an ninh phi truyền thống bên cạnh những vấn đề an ninh truyền thống là vấn đề tất yếu nảy sinh trong quá trình phát triển của thế giới, từ đó càng cần hơn sự hợp tác rộng rãi, cả song phương và đa phương để cùng giải quyết là một ví dụ cho thấy tính đa dạng, sự đan xen giữa phát triển và thách thức, giữa lợi ích và xung đột,… trong tình hình hiện nay.
Thứ hai, chúng ta cần củng cố các cơ sở pháp lý về các hoạt động trên biển, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác phát triển, ngăn chặn những hành động phương hại đến lợi ích chung của khu vực cũng như của từng nước, tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của các quốc gia và xử lý tốt những vấn đề nảy sinh như tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ…Trước hết, cần tuân thủ nghiêm và thực hiện đầy đủ Công ước LHQ về luật biển 1982. Trong khu vực Đông Nam Á, cần thực hiện đầy đủ Tuyên bố về cách ứng xử trên Biển Đông (DOC), tiến tới ASEAN và Trung Quốc cùng nhau xây dựng Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC).
Bên cạnh đó, việc tăng cường hiệu lực của các cơ chế hiện hữu và xuất hiện các cấu trúc an ninh mới như Cấp cao Đông Á (EAS) với sự tham gia của Nga và Mỹ, hay ADMM+ cũng cho thấy nhu cầu và triển vọng hợp tác giữa ASEAN với các nước đối tác có chung lợi ích trong khu vực, nó sẽ đem lại một tương lai tốt đẹp khi có sự thống nhất, đoàn kết và phát huy vai trò trung tâm của ASEAN, cũng như hài hòa lợi ích và trách nhiệm của các nước đối tác.
Thứ ba, chúng ta cần tăng cường hơn nữa hợp tác phát triển trên biển, cả song phương và đa phương, nhằm đem lại sự hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau, cùng phát triển. Trong đó, hợp tác quốc phòng có vai trò, ý nghĩa đặc biệt quan trọng, trước hết nhằm xây dựng và tăng cường lòng tin giữa quân đội các nước, tuyệt đối không sử dụng vũ lực, đồng thời giữ gìn hòa bình, ổn định, bảo vệ lao động và các hoạt động kinh tế, hàng hải, hòa bình trên biển.
Vùng biển Malacca vừa qua đã có sự ổn định, góp phần cho sự tăng trưởng của khu vực. Chúng tôi đánh giá cao sự hợp tác hải quân giữa các nước trực tiếp có liên quan như Malaysia, Indonesia, Singapore và sự ủng hộ của những quốc gia trong và ngoài khu vực. Tương tự như vậy, việc tăng cường hợp tác hải quân như tuần tra chung, thiết lập đường dây nóng giữa Việt Nam với Trung Quốc, Thái Lan, Campuchia và tiến tới tuần tra chung với Malaysia và Indonesia cũng góp phần tăng cường an ninh, trật tự trên Biển Đông.
Thứ tư, đối với các vấn đề, vụ việc xảy ra trên biển, chúng ta cần kiên trì, kiềm chế, xử lý rất bình tĩnh, trên tầm cao chiến lược và nhận thức quan trọng về tính chất của thời đại, trong đó đặc biệt cần tuân thủ luật pháp quốc tế, công khai minh bạch. Những diễn đàn như Shangri-La hôm nay là cơ hội để chúng ta cùng minh bạch quan điểm về lợi ích, về những thách thức và những quan ngại, đồng thời bày tỏ chính sách quốc phòng của các quốc gia.



Trong hợp tác, chúng ta cần bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia dân tộc, đồng thời phải giữ gìn hòa bình, ổn định và phát triển trong khu vực - đó là giá trị chung trong quan hệ lợi ích của tất cả các nước, đồng thời cũng là giá trị to lớn đối với mỗi quốc gia trong một môi trường lành mạnh, ổn định để phát triển.
Tình hình Biển Đông nhìn chung vẫn ổn định, nhưng đôi khi vẫn xảy ra các va chạm, gây lo ngại cho các quốc gia ven biển, gần đây nhất là vụ ngày 26/05/2011, tàu khảo sát Bình Minh 02 của Việt Nam bị cắt cáp thăm dò khi đang hoạt động thăm dò dầu khí bình thường trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam, gây lo ngại đến việc duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông cũng như khu vực và trên thế giới. Việt Nam đã kiên trì giải quyết vụ việc trên bằng biện pháp hòa bình theo luật pháp quốc tế và nguyên tắc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, giữ gìn hòa bình, ổn định trên Biển Đông và giữ mối quan hệ hữu nghị với các nước láng giềng. Chúng tôi mong muốn những sự việc tương tự không tái diễn.
Là một quốc gia biển, trải qua nhiều cuộc chiến tranh, chúng tôi thấu hiểu giá trị của hòa bình và ổn định cho xây dựng và phát triển đất nước. Chính vì vậy, chính sách quốc phòng của Việt Nam là hoà bình và tự vệ.
Việt Nam luôn chủ trương mở rộng quan hệ hợp tác với quân đội các nước trong và ngoài khu vực, tăng cường hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, phối hợp trong các hoạt động nhằm đối phó với các mối đe dọa an ninh chung, trong đó có an ninh biển.
Việt Nam luôn coi an ninh quốc gia của mình gắn liền với an ninh khu vực và thế giới, mong muốn là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tăng cường xây dựng lòng tin, phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước láng giềng, các nước trong khu vực và thế giới, vì hòa bình, ổn định và phát triển./.



Chuyên đề súng tiểu liên AK - Phần 3

Trong các trận đánh, việc sử dụng 1 tổ hợp vũ khí làm tăng khả năng tấn công và phòng thủ của chiến sỹ. Để tăng cường khả năng tác chiến đa dạng, trong giai đoạn hiện nay, các nhà thiết kế đã đề xuất các phương án làm tăng khả năng tác chiến của súng tiểu liên AK, dù là AK-47 hay AK -74. Đây là một số phương án cải tiến của súng AK
Tổ hợp vũ khí đi kèm.

1. Súng phóng lựu kẹp nòng.
Để tăng cường sức mạnh hỏa lực của súng tiểu liên AK, phương án đơn giản nhất là lắp thêm cho súng tiểu liên một súng phóng lựu song song. Trên khẩu AK – 74 sử dụng súng phóng lựu (GP) ГП-25 và ГП-30.

(GP) ГП-25 được gắn dưới nóng súng AK, nó bao gồm có 3 bộ phận:

1.      Nòng súng phóng lưu với thước ngắm và khung thép gắn kêt súng phóng lựu với súng AK
2. Đuôi súng và bộ phận điểm hỏa
3. Thân súng và bộ phận búa đập, cò súng và tay cầm

Khi đã gắn kết súng phóng lựu GP-25 với súng AK, theo yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu, người chiến sĩ có thể bắn 2 loại hỏa lực cầu vồng và hỏa lực bắn thẳng.
Súng phóng lựu có khả năng bắn thẳng bằng thước ngắn thẳng hoặc bắn cầu vồng bằng thước ngắm như súng cối. Để chống lại sức giật của súng, trên báng súng được lắp một tấm đệm cao su giảm giật.
Các tính năng kỹ chiến thuật của súng phóng lựu (GP-30) ГП-30 tương tự như súng phóng lựu GP-25 ГП-25, để bắn đều sử dụng các loại đạn (Vog-25) ВОГ-25 và (Vog-25P) ВОГ-25П. Nhưng điểm khác nhau của súng phóng lựu (GP-30) ГП-30 với (GP-25) ГП-25 là:
1. Công tác chuẩn bị bắn của súng phóng lựu giảm xuống 30%.
2. Khối lượng của súng GP-30 ГП-30 so với GP-25 ГП-25 là 0,260 кг.
3. Thay đổi thiết kế thước ngắm.
Thiết kế thước ngắm GP-30 ГП-30 có những đặc điểm khác so với GP-25 ГП-25. Thước ngắm cơ khí, mở nhưng được đặt ở phía bên phải đường ngắm của súng tiểu liên, không phải là bên trái như GP-25 ГП-25.  Cấu tạo của thước ngắm đơn giản hơn, kỹ năng đặt khoảng cách cho thước ngắm cũng đơn giản hơn so với thước ngắm GP-25 ГП-25.
 Tính năng kỹ chiến thuật của súng phóng lựu:

Nòng súng để định hướng bay của đầu lựu đạn, có 12 rãnh xoắn chạy từ trái lên trên sang phải , có tác dụng buộc đầu đạn vừa xoay vừa bay về phía trước, đảm bảo tính ổn định quỹ đạo của đạn.
Khung gắn để gắn súng phóng lựu với súng tiểu liên AK và gắn các bộ phận của thước ngắm. Đầu và đuôi khung có vị trí lắp bu lông để gắn với súng tiểu liên.
Thước ngắm dùng để ngắm bắn từ súng phóng lựu.

1. Đâu ngắm 2. Thân đầu ngắm 3. hãm thước ngắn 4. Thân thước ngắm 5. Dây hãm 6. Khóa hãm 7. Khe ngắm 8. Vít khe ngắm 9. Thước định khoảng cách 10. Mũi tên  11. Vạch khấc
Trên khung giá súng có các vạch khấc và số đo khoảng cách.
Thước khoảng cách: nhóm vạch và số mầu trắng từ 1 đến 4 được sử dụng cho ngắm bắn trực tiếp, bắn thẳng. Khoảng giữa các số tương đương với 150, 250 và 350m.
nhóm chữ số mầu đỏ được sử dụng để bắn đạn theo quỹ đạo cầu vồng, tương tự như súng.
Trong trường hợp phổ biến sử dụng thước ngắm thẳng, phương pháp ngắm tương tự như ngắm súng tiểu liên hoặc B40.
Với phương pháp ngắm bắn quỹ đạo cầu vồng, trước hết mục tiêu và đầu ngắm cùng nằm trên một đường thẳng trên mặt phẳng. Đồng thời mở mặt đứng, dây chỉ trùng với vạch khấc trên trên khóa hãm thước ngắm.
Dây chỉ  dùng để đặt thước ngắm bắn đạn cầu vồng, mục tiêu bị che khuất bởi vật cản, không quan sát và lấy thước ngắm thẳng được. Dây chỉ được đặt bởi vít dây chỉ và vít khóa. Lò xo thước ngắm ép dây chỉ vào các khấc của trục thước ngăm và bằng cách đó giữ nguyên thước ngắm ở vị trí đã đặt.
Khóa hãm thước ngắm hãm thước ngắm ở vị trí đã đặt, sao cho khi bắn, thước ngắm không thay đổi.
Đuôi nòng súng: đuôi súng là buồng nòng cao áp, đốt cháy thuốc phóng của đạn
Thân súng và bộ phân cò:Thân súng với tay cầm kết nối đuôi nòng súng, trở thành 1 bộ phận của súng phóng lựu, sẽ được tháo rời khỏi nòng súng, khung gắn và xếp vào túi khi hành tiến. Trong thân súng là bộ phận cò, kim hỏa và lo xo kim hỏa.
Tay cầm:  để giữ súng và bắn
Bộ gá kẹp thân súng:   gá chặt súng phóng lựu vào súng AK, và bảo vệ súng phóng lựu khỏi hư hỏng trong quá trình bắn. Trong bộ gá thân súng phóng lựu có lớp đệm chống va đập vào hộp khóa nòng của súng AK
Bộ phận kim hỏa và cò súng: Để điểm hỏa đạn.
Bao gồm
  1. Cò súng và búa đập
  2. Bộ phận nẩy cò và lò xo.
  3. Kim hỏa
  4. Lò xo búa
  5. Vòng cò
Khóa an toàn: khi vặn ở vị trí "ПР" tay khóa ở vị trí thẳng đứng, sẽ khóa chết cò súng, chống hiện tượng súng nổ vô tình. Khi bắn vặn tay khóa ở vị trí "ОГ" nằm ngang, sau đó bóp cò súng.
Đệm báng súng:  Đệm báng súng được lắp để giảm nhẹ sức giật của súng phóng lựu khi xạ thủ bắn trên vai và làm giảm sự hỏng vỡ báng súng khi đặt súng bắn trên mặt đất cứng.
Tính năng kỹ chiến thuật súng phóng lựu:
Cỡ đạn: 40mm
Khối lượng súng ,kg
- ГП-25 (GP-25)         1.5
- ГП-30 (GP-3)           1.2
Thước ngắm, m
- macximum                                     400
- minimum khi bắn cầu vồng               200
Tầm bắn hiệu quả: m
- Đạn nổ phá                                      250
- Đạn nổ dùng chất hóa học                200
Tốc độ bắn chiến đấu Phát /phút         4-5
Chiều dài thước ngắm, mm                120
Chiều dài nòng súng có rãnh xoắn, mm 98
Số lượng rãnh xoắn. 12
Các loại đạn sử dụng
Đạn phóng lựu (Vog -25) ВОГ-25 (đạn nổ phá mảnh)

Khác với người Mỹ, các nhà thiết kế đạn Xô viết thiết kế loại đạn liền với vỏ đạn, được gọi là vỏ đạn bay. Tương tự như đạn súng cối.
Thuốc phóng của đạn (Vog 25) ВОГ-25 nằm trực tiếp trên đạn. Do đó không cần bẻ nòng súng và tháo vỏ đạn ra. Sau mỗi phát bắn, xạ thủ chỉ cần lấy đạn từ túi đựng đạn, đút vào nòng súng và nhấn đến tận đáy, động tác này có thể làm bằng 1 tay, một tay vẫn giữ súng.
40mm đạn phóng lựu (Vor-25) ВОГ-25 ở thân đạn được tiện 12 vòng xuyến, khi bắn sẽ làm cho đầu đạn quay theo chiều quay của rãnh xoắn. Sự đột ngột phá nổ của khí thuốc, xảy ra khi trong mô hình thiết kế của đạn dành cho súng nòng ngắn với vận tốc Vo đầu nòng không cao, với lượng thuốc phóng không lớn và với chiều dài nòng súng gần như bằng chiều dài viên đạn. Đây là thiết kế không mới đối với phóng lựu, nhưng cho hiệu quả khai thác sử dụng rất cao. Luồng không khí chạy quanh mô hình thiết kế kiểu đạn này, đảm bảo đạn bay đúng quỹ đạo của thước ngắm.
Phía trong thân của lựu đạn, giữa thuốc nổ và thân đạn, có 1 lớp lưới bằng bìa catton nhằm đảm bảo khi nổ, nó sẽ phá thân đạn thành các mảnh nhỏ, mở rộng khả năng sát thương của mảnh đạn. Cần phải xác nhận rằng: Đạn  Vog-25 theo khả năng sát thương tại mục tiêu gấp 5 lần (OFZ 30mm) ОФЗ 30mm của đại bác 2A42, được lắp trên xe bọc thép BMP-2
Ý tưởng thiết kế đạn Vog 25 với vỏ đạn gắn liền với đạn là ý tưởng thông minh. Khi thuốc phóng cháy, khí thuốc đi quá các lỗ thoát khí, đập vào đáy buồng đạn, đẩy đạn ra ngoài nòng súng, và cùng với nó là vỏ đạn. Với khối lượng vỏ đạn rất bé, nên không ảnh hưởng đến quỹ đạo đường đạn
Khí thuốc cháy hết bên ngoài trong quá trình đạn chuyển động làm giảm đi tác động phản lực là cho súng giật và nẩy cao.
Kíp nổ ВМГ-К (BMG-K) là loại kíp nổ ngay, nhanh và tác động theo quán tính, bán khóa kíp đâu đạn với các thông số về trạng thái sẵn sàng nổ của đầu đạn và khả năng tự hủy của đầu đạn. Khoảng cách mở khóa an toàn của đạn là từ 10m – 40 m tính từ mặt cắt đầu nòng súng. Loại đầu đạn này hoạt động trong dải nhiệt độ từ -40­oC đến + 50­­­oC
Đạn Vog 25P  ВОГ-25П (đạn phóng lựu nổ phá)


Khi các nhà thiết kế đạn SKIB SOO thiết kế súng phóng lựu GP25 vào năm 1974, các đồng nghiệp ở Trung tâm nghiên cứu GNPP Thiết bị được yêu cầu chế tạo loại đạn 40mm cho súng phóng lựu kẹp nòng nhưng có hiệu quả cao đối với những mục tiêu nằm sát mặt đất hoặc dưới các hầm, hào trú ẩn không có nắp che. Bài toán đó được các nhà thiết kế đạn GNPP Thiết bị giải quyết rất hoàn hảo. Năm 1979 trên bãi thử đạn đã thử nghiệm thành công loại đạn cóc nổ phá Vog-25p ВОГ-25П mã số 7П24 (7P24) và cũng trong năm đó, loại đạn này được tiếp nhận vào trang bị của quân đội Xô viết, điểm trọng yếu được nằm trong thiết bị kích nổ, có tên là ВМГ-П (BMG-P)
Trong bộ phận đầu nổ BMG-P được đưa thêm vào một lượng nổ nhỏ và hệ thống làm chạm, cho phép đạn phóng lựu sau khi rơi xuống đất sẽ lại nhẩy lên cao và phát nổ ở tầm cao 0,75m trên mọi khoảng cách bắn. Điều đó đã làm tăng thêm hiệu quả sát thương của đạn nếu so với loại đạn cũ Vog-25, với mục tiêu năm tăng 1,7 lần, với mục tiêu dưới chiến hào, ụ súng không nắp che là 2 lần
Đạn phóng lựu (Vog 25IN) ВОГ-25ИН

Để phục vụ giáo luyện được sử dung loại đạn Vog 25IN  ВОГ-25ИН mã số đạn là Gray- 7P17I (Индекс ГРАУ - 7П17И)
Loại đạn này phục vụ giáo luyện, hoặc chỉ thị mục tiêu. Trong đạn có lượng nổ khói, khí phát nổ trong vòng 10 – 15 s sẽ tạo ra một đám khói mầu đỏ và vàng da cam, quỹ đạo đường đạn của loại đạn tập này tương tự như đạn chiến đấu.
Đạn phóng lưu Gvozdi "Гвоздь"

Ngoài lựu đạn GP-25 ГП-25 được sử dụng trong quân đội, đạn GP-25 còn được sử dụng trong lực lượng cảnh sát. Điều đó sẽ làm thay đổi số lượng kiểu loại đạn GP. Đạn hóa học CS được sử dụng để chống bạo loạn, biểu tình cực đoan và chống khủng bố
Khối lượng của đan Gvozd:   170g
Tầm bắn xa nhất:                     250mm
Tầm bắn gần nhất cho phép:   50mm
Thời gian phát tán gas:            15s
Thể tích gas tạo ra:                  500 m­­3
Ngoài đạn hóa học, đối với các lực lượng đặc công, bộ đội đặc biệt tinh nhuệ còn được chế độ các loại đạn khói, đạn quang âm và đạn nhiệt áp.
Vào đầu những năm 2000 ở Trung tâm nghiên cứu GNPP (ГНПП)  đã thiết kế và chế tạo loại đạn mới nhằm thay thế loại đạn Vog -25 ВОГ-25  và Vog 25P ВОГ-25П  là loại đạn nâng cấp (Vog 25M) ВОГ-25М và (Vog 25PM) ВОГ-25ПМ. Chúng có một kiểu dáng thống nhất và phương thức phát nổ mảnh được định hướng. Năng lượng và số lượng mảnh nâng cao khả năng sát thương sinh lực lên 1,5 lần. Nhưng tham vọng chế tạo loại đạn xuyên bằng lượng nổ định hướng đã không thành công do không thể điều khiển được quỹ đạo đường đạn.
Phương pháp nạp đạn phóng lựu tương đối dễ dàng, đan Vog 25 ВОГ-25 được nạp từ nòng súng, đạn 40mm được đẩy vào nòng súng dễ dàng, đẩy viên đạn đến tận đáy nòng súng, chốt khóa sẽ khóa viên đạn lại, đồng thời đưa khóa nòng và kim hỏa vào trạng thái sẵn sàng hoạt động. Do đó, trạng thái nạp đạn chưa đến chốt hãm hoàn toàn không thể xảy ra.
Thông số kỹ thuật của đạn (Vog-25) ВОГ-25 và (Vog-25P) ВОГ-25П

Đạn (Vog-25)  ВОГ-25
Khối lượng kg                         0,250
Chiều dài mm                          103
Tốc độ đầu nòng của đạn, m/s 76
Khối lượng thuốc nổ, kg         0,048
Thời gian đạn tự hủy s,           <14
Đạn ( Vog-25P) ВОГ-25П
Khối lượng kg                         0,275
Chiều dài, mm                         125
Tốc độ đầu nòng của đạn m/s 76
Khối lượng thuốc nổ, kg         0,042
Thời gian đạn tự hủy s,           <14
Độ cao phát nổ khi nhẩy, m    0,75

Chuyên đề súng tiểu liên AK - Phần 2

(Nguồn: quocphonganninh.edu.vn)
Nhận định sự  phát triển súng Tiều liên AK và khả năng nâng cấp súng AK với các nước có nền công nghiệp quốc phòng chưa phát triển - Phần 2
Các loại đạn sử dụng
Đạn AK tiêu chuẩn 5.45х39. và 7.62х39

Vận tốc ban đầu của đạn 5.45 là 900 m/s, khối lượng của đạn là 10,2  gram, nhẹ hơn 6 gram so với đạn 7.62х39mm (16.2 г), nếu mang theo biên chế là 8 băng đạn (240 viên) cho khối lượng là  1,4 kg. Loại đạn mới này cho phép tạo một đường thẳng quỹ đạo đường đạn trong khoảng cách 100m tầm bắn.
Vào những năm cuối của thế kỷ 20, quân đội các nước trên thế giới đã trải qua các cuộc chiến tranh lớn và những cuộc chiến tranh cục bộ với mật độ sử dụng vũ khí bộ binh và hỏa khí rất lớn. Những kinh nghiệm chiến đấu đã làm nảy sinh yêu cầu cải tiến các loại vũ khí theo hướng giảm thiểu khối lượng vũ khí và đạn dược, sức giật của súng. Nâng cao khả năng bắn trúng, bắn chụm, tiết kiệm các vật liệu quý hiếm khi sản xuất đạn. Giải pháp cho các vấn đề đó là cải tiến và hoàn thiện vũ khí thế hệ mới của súng trường tự động và đạn có độ giật thấp với đường kính tiêu chuẩn 5,45 – 5,56mm. Thay thế cho cỡ đạn 7,62mm. Ở Liên xô ( CCCP) đã thiết kế và đưa vào sử dụng loại đạn 5,45mm dành cho súng tiểu liên AK -74 với đầu đạn thông thường.

Kiểu đạn tiêu chuẩn 5,45mm được sử dụng đến năm 1987, cho đến khi trong quân đội các nước bắt đầu phổ cập các thiết bị bảo vệ cá nhân ( áo giáp). Thiết kế và chế tạo các loại đạn được hướng theo phương án thay lõi đạn thường bằng lõi thep 65G, 70 và 75, và nhiệt luyện sao cho lõi đạn đạt độ cứng không thấp hơn 60 HRC. Kính thước và hình dáng viên đạn vẫn không thay đổi.

Nhưng sự phát triển của những thiết bị bảo vệ cá nhân ( Áo giáp cá nhân sử dụng các miếng giáp được làm từ thép titan đã ngăn chặn rất hiệu quả khả năng xuyên thấu của đạn 5,45mm 7H6, đầu đạn không có khả năng xuyên giáp titan ngay cả trong trường hợp bắn gần do lõi của đạn không được thiết kế tối ưu nhất. Trước các nhà chế tạo đạn xuất hiện bài toán mới, thiết kế kiểu đạn 5,45mm có khả năng xuyên giáp cao nhất.
Vào năm 1992. tập thể các nhà thiết kế và sáng chế của nhà máy chế tạo máy Barnaul đã thiết kế, chế tạo và đưa vào trang bị loại đạn xuyên giáp mới có khả năng xuyên thấu mọi loại giáp thông thường.
Đầu đạn 7H10 có điểm khác biệt so với đầu đạn 7H6 là, lõi đạn được dập nguội và vê nhọn, đường kính chỗ cao nhất của viên đạn không quá 1,8mm, viên đạn nặng thêm 5%, so sánh bên ngoài với đầu đạn 7H6 hoàn toàn không khác nhau. Vào năm 1993 công tác nghiên cứu nhằm nâng cái hiệu quả sát thương mục tiêu, độ chụm của đạn và công nghệ sản xuất đạn, đã năng động phát triển, kết quả thử nghiệm thành công và năm 1994 đã sản xuất hàng loạt loại đạn 5,45mm với khả năng xuyên giáp rất cao. Cho phép xuyên thấu lớp áo giáp bằng thép titan
Điểm đặc biệt của đầu đạn  7Н10 (3) là lớp vỏ của đầu đạn được bọc bằng chì cứng, lớp chì bao bọc bên ngoài cho phép đầu đạn bằng thép các bon có khả năng xuyên thấu qua các miếng titan trên ao giáp ở khoảng cách 200m và các mảnh giáp thép có độ dầy tới 16 mm ở khoảng cách 100m, Giải pháp kỹ thuật đó được xuất hiện trong quá trình nghiên cứu quá trình xuyên phá của đạn, lý tính kỹ thuật của quá trình xuyên thấu.  Quá trình xuyên phá giáp bảo vệ của đạn 7H10 được thể hiện theo sơ đồ sau:


Khi đạn 7H10 chạm vào giáp sắt, lớp vỏ chì bám chặt vào mặt giáp và lõi đạn tiếp tục đi sâu vào miếng giáp sắt, lớp vỏ chì tạo thành 1 mội trường kín, lõi đạn chuyền toàn bộ động năng của lõi đạn vào miếng giáp và tăng lên nhiều lần sức xuyên phá của lõi đạn vào tấm giáp thép
Đạn 7H10 đã nâng cao khả năng xuyên phá giáp bảo vệ cá nhân nhưng đó chưa phải là chấm hết của cuộc cạnh tranh giữa giáp bảo vệ và đạn xuyên phá. Từ giải pháp trên đã xuất hiện đạn xuyên thép và được đưa vào trang bị vào năm 1998 loại đạn xuyên thép 7H22 5,45mm
Với loại đạn 7H22 đã sử dụng loại lõi đạn nhọn được chế tạo từ thép hợp kim các bon cường độ cao Y12A. Lõi đạn nhọn được chế tạo với hình khối hoàn chỉnh và chế tạo từ thép bền và cứng đã cho phép xuyên phá các lớp vỏ thép có độ dầy 6mm ở khoảng cách 250mm
Thông số kỹ thuật cơ bản của đạn 5,45mm được đưa vào bảng 1. Hiệu quả xuyên thép của đạn 5,45mm được giới thiệu ở bảng 2.

Phân biệt các loại đạn 5,45mm là: Đạn 7H6 có vành sơn đỏ ở đầu đạn và ở đuôi vỏ đạn. Đạn xuyên giáp 7H10 có màu sơn tím ở thân viên đạn. đạn 7H22 xuyên thep có sơn màu đỏ và mầu đen ở đầu viên đạn. Ngoài ra, có thể phân biệt các loại đạn dựa trên năm sản xuất và nhà máy sản xuất đạn ở đuôi đạn


Ký hiệu trên đạn số nhà máy và năm sản xuất

Số hiệu nhà máy sản xuất đạn
Nhà máy chế tạo máy Ulyanov  (3)
Nhà máy cơ khí Yuriujan  (38)
Nhà máy công cụ Lugan  (270)
Nhà máy đạn Tula (539)
Băng đạn súng tiểu liên AK-74
 
Băng đạn sử dụng cho súng AK-74 là băng đạn tiêu chuẩn 30 viên đạn. Được sơn thành 3 mầu chủ yêu là: Sơn sần mầu đen, sơn sần mầu mận sẫm và mầu da cam . Các sản phẩm thương mại có thể sơn bất cứ mầu nào hoặc theo địa giới, môi trường sử dụng.
Trên ảnh là một số các mẫu băng đạn, không phải loại băng đạn tiêu chuẩn, nhưng rất thuận lợi cho sử dụng.
Loại băng dài, chủ yếu dành cho súng trung liên RPK-74 có 45 viên đạn hoặc băng tròn 75 viên
Đối với loại súng cac bin dành cho du kích Saiga có sản xuất loại băng đạn đạn 10 viên, nhưng chủ yếu dùng cho đạn 7,62x39mm. Dành cho đạn 5,45x39 chưa chứng minh được đã sản xuất hàng loạt loại băng đạn này.
Đối với súng tổ hợp tiểu liên, phóng lựu Kanareika có sản xuất loại băng đạn 20 viên cho đạn 5,45x39 cho phép người bắn có thể nằm thấp hơn.

Đã tồn tại băng đạn 4 dãy đạn chứa đến 60 viên đạn, nhưng có vấn đề với việc tiếp đạn và không ổn định chắc chắn, do đó loại băng đạn này không được tiếp nhận trong sử dụng.

Để nạp đạn nhanh chóng và hiệu quả trên trường bắn hoặc trong điều kiện huấn luyện, sử dụng các kẹp đạn, mỗi kẹp đạn cho phép kẹp đến 15 viên đạn AK-74

Chuyên đề súng tiểu liên AK - Phần 1

Nhận định sự  phát triển súng Tiều liên AK và khả năng nâng cấp súng AK với các nước có nền công nghiệp quốc phòng chưa phát triển - Phần 1
Súng tiểu liên AK Kalasnhikov được bắt đầu hoàn thiện vào năm 1946 và được tiếp nhận vào biên chế của Hồng Quân mẫu năm 1947. Được gọi với cái tên đơn giản là súng AK. Tên gọi AK-47 chưa bao giờ được thừa nhận trong lịch sử phát triển của Tiểu liên AK, nó chỉ được coi như là tên gọi quen thuộc của vũ khí.


АК
Đến năm 1959, theo kinh nghiệm sử dụng của quân đội, súng tiểu liên AK được cải tiến và nâng cấp lần thứ nhất, có tên gọi là (AKM) Tiểu liên AKM có những cải tiến đáng kể sau:
1-      Thay hộp khóa nòng dập bằng một kiểu dập nổi làm giảm khối lượng của hộp khóa nòng,
2-      Báng súng được nâng cao hơn so với AK47 để thuận tiện hơn về đường ngắm,
3-      Đưa thêm vào bộ phận cò 1 bộ phận cơ khí làm chậm cò súng ( tăng lực bóp cò súng )
4-      Đầu nòng súng được tiện ren để lắp bộ phận giảm nẩy, trong điều kiện cần thiết có thể lắp giảm thanh (PBC-1) ПБС-1


АКМ với lưỡi lê
Vào nửa đầu năm 1070, trên cơ sở của đạn M43 đã xuất xưởng loại đạn mới 5.45mm x 39, trên cơ sở các loại vũ khí đã được kiểm tra và xây dựng hạ tầng cơ sở cho sản xuất theo dây chuyền công nghiệp của súng tiểu liên và trung liên cá nhân Kalasnhikov, với yêu cầu thay đổi ở mức nhỏ nhất trong dây chuyền nhưng vẫn sử dụng loại đạn mới, từ đó thế hệ vũ khí thứ 2 của Kalasnhicov ra đời và được biên chế vào trang bị của lực lượng vũ trang Liên bang Xô Viết. Súng tiểu liên AK – 74 và AKC- 74
Trong quá trình sản xuất, thiết kế cơ bản của súng tiểu liên AK có chút thay đổi. Báng súng, trước đây được làm bằng gỗ, nay thay bằng nhựa tổng hợp. Xuất hiện mẫu súng AK – 74H dùng cho các hoạt động ban đêm, bên sườn của hộp khóa nòng có thêm giá đỡ để lắp thiết bị ngắm bắn đêm hồng ngoại.Băng đạn trước đây được chế tạo từ nhựa tổng hợp mầu da cam sẫm, nay chuyển thành mầu đen. Model cuối cùng của súng tiểu liên AK 74 tiêu chuẩn là súng tiểu liên AK-74M được biên chế vào trang bị của quân đội liên bang Nga vào những năm 1990. Súng AK-74M lập tức thay thế hoàn toàn các model AK-74, AKC-74 và AK-74H, vì AK-74M  đã có những cải tiến phù hợp như: báng súng được làm bằng nhựa tổng hợp mầu đen và gập sang bên trái của súng với bộ giá đa năng để lắp các thiết bị kính ngắm quang học ngày và đêm. Rất tiếc là những cải tiến khác của AK -74M không được áp dụng, ví dụ như lẫy khóa an toàn chưa được thuận tiện và còn phát ra tiếng động, theo mẫu AK 47 ban đầu.
АК-74U
Súng tiểu liên cực ngắn  AKS-74U được phát triển vào cuối những năm 1970 như một phần của chương trình thi đua cải tiến,  "hiện đại hóa " trên cơ sở súng trường tự động tiêu chuẩn AK-74 (sửa đổi của AKS-74 báng gấp), đặc biệt là trang bị vũ khí cho kíp lái của xe chiến đấu, vũ khí trang bị cho các nhóm nhân viên quân sự khác như các phân đội đặc nhiệm, biệt động, bảo vệ, mà sử dụng AK-74 là quá lớn. Ngoài quân đội, các AKS-74U được sử dụng rộng rãi trong các lực lượng công an, cảnh sát, do tính nhỏ gọn, cơ động và dễ dàng cất giữ trong xe và dễ sử dụng khi di chuyển trong xe hoặc tác chiến trong các khu dân cư, nhà ở thành phố. Vì lý do, và bởi vì nó rất dễ dàng để giấu trong túi xách hoặc dấu dưới quần áo, AKS-74U được phổ biến trong các nhiệm vụ bảo vệ các yếu nhân, các quan chức cao cấp của chính phủ , cũng được những nhóm cướp, khủng bố và các nhóm tội phạm có tổ chức. Đặc biệt để dành cho các binh chủng đổ bộ đường không, đường biển và các lực lượng đặc biệt đã phát triển một phiên bản của AK 74 là-AKS 74UB, nòng súng được tiện các đường ren để gắn các bộ giảm thanh (thường được sử dụng  bộ phận giảm thanh PBS-4), và thiết bị để gắn dưới nòng súng súng phóng lựu 30mm BS -1. Một số thay đổi như một thanh giá đỡ bên để gắn các thiết bị ngắm bắn ban đêm và ngày. AKS-74U được thiết kế với sử dụng tối đa sự thống nhất của các bộ phận với AK-74 / AKS-74. Súng AK74U khác với AKS-74 là: rút ngắn 2 lần độ dài nòng súng và tương ứng là bộ phận trích khí, buồng khí được đẩy về phía sau,Bộ phận đẩy về và piston được rút ngăn, và làm thay đổi lỗ trích khí, mở rộng buồng khí để đảm bảo cho hoạt động đầy về và nạp đạn được thực hiên ổn định, ko thay đổi so với tiêu chuẩn, bộ phận ngắm và thước ngắm, đầu ruổi được thiết kế bắn hiệu quả từ  200m và 400m, gắn trên nắp hộp khóa nòng. Tất cả các bộ phận cấu tạo của súng AKS-74U cấu trúc tổng thể tương tự như các bộ phận của  AKS-74.

АКС-74
U
Những thế hệ sau của súng trường tự động Kalasnhikov có hàng trăm mẫu, bao gồm các mẫu súng dành cho xuất khẩu và các mẫu súng cân bằng động
Mẫu dành cho xuất khẩu
АК-101 – Mẫu súng  АК-74М với đạn tiêu chuẩn 5.56х45
АК-102 – Mẫu súng thu ngắn АК-74М với đạn tiêu chuẩn 5.56х45
АК-103 – Mẫu súng АК-74М với đạn 7.62х39
АК-104 – Mẫu súng thu ngắn АК-74М với đạn 7.62х39
АК-105 – Mẫu súng thu ngắn АК-74М với đạn 5.45х39
Mặc dù có rất nhiều mẫu súng xuất khẩu khác nhau, súng AK 74 với 2 mẫu đạn tiêu chuẩn 7.62х39 và 5.45х39  vẫn được trang bị cho các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang Liên Bang Nga.
Với các mẫu súng cân bằng động:
АК-107 – đạn  5.45х39
АК-108 – đạn 5.56х45
Nguyên lý hoạt động của súng AK cân bằng động:

Тhông số kỹ thuật súng AK
Đối với АК-74 (АКС-74)
Cỡ nòng, mm       5.45x39
Khối lượng, kg
- Không có băng đạn  3.07 (2.97)
- Với băng đạn nạp đầy đạn  3.57 (3.47)
- Băng đạn nhựa tổng hợp   0.2
- Băng đạn bằng sắt 0.42
- Một viên đạn nặng ,  10.2g
- Súng phóng lựu ГП-25 và thước ngắm ПК-А 5.33 (5.23)
Khối lượng lê AK đa dụng, Kg
- có vỏ bao 0.37
- không có vỏ bao 0.23
Chiều dài của súng, mm
- Với báng mở 940
- Với báng gấp (АКС-74) 700
- Với báng mở và lắp lưỡi lê 1105
Chiều dài nòng súng, mm 415
Chiều dài rãnh xoắn, mm 372
Số lượng rãnh xoắn, шт. 4
Chiều dài bước rãnh xoắn, мм 200
Tốc độ bắn lý thuyết, phát./phút. 600 - 650
Tốc độ bắn chiến đấu. phát/мин.
- Bắn phát một  40
- Bắn liên thanh 100
Tầm bắn theo thước ngắm. m 1000
Tầm bắn hiệu quả, m
- Mục tiêu cao nửa thân người: 440
- Mục tiêu di động cả thân:  625
Độ chụm, МОА 2.5
Băng đạn 30
Giới thiệu kỹ thuật
Những thiết kế khác biệt giữa súng tiểu liên AKM và AK 74 không có. AKM và KA74 là súng tiểu liên tự động hoạt động trên nguyên tắc sử dụng động lực khí thuốc, nạp đạn bằng băng đạn và làm lạnh bằng không khí

Bộ phận quan trọng nhất của súng tiểu liên là bộ phận chuyển động bằng khí thuốc với pittong gắn liền với thoi đẩy. Bộ phận dẫn thoi là bệ khóa nòng nặng gắn liền với thoi đẩy và pittong.
Buồng khí ( ống dẫn thoi) được bố trí phía trên của nòng súng, pittong chuyển động trong ống dẫn thoi và ốp lót tay trên. Bệ khóa nòng chuyển động trong ống dẫn thoi theo hai chiều lên xuống. Nhà thiết kế đã nghiên cứu chính xác khe hở giữa các bộ phận chuyển động và cố định của súng tiểu liên để đảm bảo các bộ phận hoạt động tốt trong điều kiện bị gây bẩn nghiêm trọng trong hoàn cảnh chiến trường. Còn có một khía cạnh kỹ thuật được áp dụng đảm bảo cho súng hoạt động ổn định trong những hoàn cảnh khắc nghiệp. Đó là lượng khí trích dư của khí thuốc rất lớn trong điều kiện hoạt động bình thường. Vấn đề này đã loại bỏ bộ phận điều chỉnh khí thuốc như các súng trường tự động cùng loại, và từ đó làm đơn giản hơn thiết kế của súng. Nhưng giải pháp kỹ thuật đó làm súng giật về phía sau mạnh hơn và nẩy cao hơn, làm giảm đi độ chính xác và độ chụm của loạt bắn. Và sự va đập của bệ khóa nòng nặng sẽ làm giảm đi thời gian sử dụng của hộp khóa nòng.
Nạp đạn và đóng mở nòng súng được thực hiện bằng xoay khóa nòng tại hai điểm, khi khóa nòng đẩy đạn vào nòng súng và liên kết với các mấu khóa trên hộp khóa nòng. Xoay khóa nòng được thực hiện bằng mẫu định hướng trên khóa nòng và rãnh xoắn trên thân bệ khóa nòng trong quá trình dịch chuyển của khóa nòng và bệ khóa nòng đưới lực đẩy của lò xò đẩy về. Lò xo đẩy về và thanh đỡ lò xo đẩy về còn là khóa giữ liên kết hộp khóa nòng với nắp hộp khóa nòng. Tay kéo bệ khóa nòng được gắn chặt với bệ khóa nòng và chuyển động cùng với bệ khóa nòng khi bắn.
Hộp khóa nòng của súng tiểu liên AKM được dập từ thép và được phay ở phần phía trước. Với các loại AK khác nhau thì phần dập riêng và phần phay riêng được làm riêng. Súng AK sản xuất theo seria được phay đồng bộ trên hộp khóa nòng. Rất dễ phân biệt các loại súng AK khi so sánh hộp khóa nòng được phay và được dập nếu so sánh phần phay để lắp băng đạn. Trên hộp khóa nòng phay chiều sâu hoàn toàn thẳng đứng, còn đối với hộp khóa nòng dập thì sẽ có một chút ovan theo lỗ dập.
Bộ phận cò súng đập vòng YCM của AKM cho phép tiến hành bắn phát một và bắn liên thanh. Lựa chọn bắn phát một hoặc bắn liên thanh được thực hiện bằng cần gạt bằng thép dập phía bên phải của hộp khóa nòng. Ở vị trí cao nhất nó che lỗ hất vỏ đạn của nắp hộp khóa nòng, bảo vệ súng khỏi bẩn và bụi, đồng thời khóa tay kéo bệ khóa nòng. Ở vị trí thứ hai ( AB) khóa an toàn giải phóng lẫy chẹn đuôi cò súng và súng ở chế độ bắn liên thanh. Ở vị trí cuối, khóa an toàn chẹn đuôi cò súng bộ phận khóa cò, để súng thực hiện chế độ bắn phát một. Từ súng AKM trở đi, bộ phận cò có thêm thiết kế giữ chậm búa súng khoảng vài mini giây, điều này cho phép bệ khóa nòng ổn định chắc chắn vị trí của khóa nòng sau khi di chuyển lên phía trước và đưa viên đạn vào nòng súng, tránh được tình trạng hóc đạn. Thực tế việc giữ chậm này không ảnh hưởng đến tốc độ bắn chiến đấu, và làm ổn định hơn hoạt động của súng tiểu liên
Nóng súng tiểu liên AKM trở lên được tiện ren, thời điểm ban đầu bộ phận này dùng để lắp bộ phận bắn đạn không đầu huấn luyện, hoặc lắp bộ phận bảo vệ nòng súng. Những năm 60, đầu ren AKM thường được lắp bộ phận giảm nẩy, nhằm giảm độ nẩy và độ dạt ngang của súng do sử dụng áp lực khí thuốc khi bắn liên thanh lên bề mặt của bộ phận giảm nẩy.
Ren tiện trên nòng súng còn được dùng để lắp ống giảm thanh ПБС và ПБС-1, dùng trong các chiến dịch đặc biệt. Điểm đặc biệt của AK-74 khác với các súng AK khác là ống giảm áp to và nặng, cho phép giảm phản lực của súng ở mức thấp nhất. Cho phép xạ thủ có thể bắn chính xác và bắn chụm hơn khi ở chế độ liên thanh. Điểm không tốt của ống giảm áp là nó đẩy sóng âm sang hai bên. Gây cảm giác rất khó chịu đối với những người bên cạnh xạ thủ.